Post Top Ad

Post Top Ad

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

2:19:00 CH

Nhạc lý cơ bản cho người mới bắt đầu (Phần 1) .

1. TẠI SAO CẦN PHẢI HỌC NHẠC LÝ ???
Âm nhạc chính là một loại ngôn ngữ chung cho toàn thế giới. Nó đặc biệt hơn tất cả những ngôn ngữ khác. Vì vậy để hiểu được nó chúng ta dĩ nhiên phải học nó. Nếu bạn đã từng học một loại ngôn ngữ thứ 2, khác ngôn ngữ mẹ đẻ bạn sẽ hiểu rằng cần phải kiên trì, rèn luyện qua năm tháng mới có thể giỏi hoặc ít nhất cũng kha khá loại ngôn ngữ đó. Cũng giống như mọi loại ngôn ngữ khác, để giỏi và thành thạo ngôn ngữ âm nhạc bạn cũng cần trải qua 4 kỹ năng căn bản đó là: Nghe; Nói; Đọc và Viết. Hoàn thiện được 4 kỹ năng này bạn đã là người nắm được những kiến thức về nhạc lý cơ bản rồi đó, nhưng nói thì dễ chứ làm mới khó ^^. Các bạn đã sẵn sàng chinh phục âm nhạc chưa ??? Dù rằng bạn mơ ước trở thành ca sĩ, nhạc sĩ hay chỉ đơn giản là thích chơi một loại nhạc cụ nào đó như Piano, Guitar, Violon... thì nhạc lý cũng là thứ đầu tiên mà bạn phải học. Giống như bạn phải tập đi thật vững chắc thì bạn mới có thể chạy nhanh được. Nào bắt đầu nhé !!!

2. ÂM THANH LÀ GÌ?
  • Âm Thanh là những tiếng động do các vật thể va chạm với nhau mà tai chúng ta nghe được.
  • Nói cách khác,âm thanh là một trong những hiện tượng vật lý được tạo ra do chấn động.Vật gây ra chấn động tạo ra âm thanh được gọi là nguồn âm.
  • Những tiếng động chúng ta thường nghe trong cuộc sống như:tiếng xe chạy,tiếng mèo kêu,tiếng xào xạc của gió,tiếng tíc tắc của đồng hồ..
  • Khi nghe tiếng động,các dây thần kinh âm thanh tai người sẽ cảm nhận theo hướng khó chịu hoặc dễ chịu.Tuy nhiên k phải âm thanh nào cũng có khả năng làm chất liệu cho âm nhạc.

3. ÂM NHẠC LÀ GÌ?
  • Âm nhạc là một môn nghệ thuật phối hợp âm thanh theo những quy luật nhất định.
  • Âm nhạc bắt nguồn từ những âm thanh trong cuộc sống,nó phản ánh những tình cảm của con người.
  • Âm thanh có cao độ rõ ràng,có giai điệu và nhịp điệu,những âm thanh đó gọi là có tính nhạc,chúng có 4 tính chất sau:
-Cao độ (Hauter):Mức độ trầm bổng của âm thanh VD:tiếng chuông chùa trầm ấm.
-Trường độ (Durée):Mức độ ngắn dài VD:tiếng đồng hồ tíc tắc.
-Cường độ (Intensité):Mức độ mạnh nhẹ của âm thanh VD:tiếng thác,suối chảy.
-Âm sắc (Timbre):có thể có những âm thanh giống nhau về Cao độ,Trường độ,Cường độ nhưng chúng khác nhau về âm sắc VD: cùng một cao độ nhưng giọng nữ và nam khác nhau.

Ban đầu con người ta dùng 4 tính chất trên của âm thanh một cách tự phát như để gọi trâu về chuồng người ta dùng tiếng tù và...để giải trí trong hội hè người ta reo hò..và từ những công việc trong cuộc sống,âm nhạc đã hình thành và phát triển

4. ÂM NHẠC
Để ghi lại âm thanh cao thấp, dài ngắn... người ta dùng các kí hiệu ghi nhạc. Trước đây ở Việt Nam, người ta chưa dùng hệ thống ghi âm trên 5 dòng kẻ như bây giờ mà dùng các âm tượng thanh như tính tình tang..
Lối ghi nhạc trên 5 dòng kẻ đã được phát minh từ đầu thế kỉ XX và được sử dụng ở Việt Nam từ khoảng năm 1929.
Khuông nhạc là hệ thống gồm 5 dòng kẻ và 4 khe nằm song song và cách đều nhau theo phương nằm ngang. Thứ tự của các dòng và khe được tính từ dưới lên trên


Khuông nhạc giúp ta nhận ra cao độ của âm thanh ghi lên đó - Tuy nhiên phải kết hợp với khoá nhạc ở đầu khuông nhạc. Khoá nhạc khác nhau thì tên nốt nhạc sẽ khác nhau. Cụ thể sẽ được trình bày ở các bài sau.
Có những nốt nhạc cao hơn hoặc thấp hơn không thể ghi lên khuông nhạc chính nên người ta thêm vào những dòng kẻ phụ và khe phụ

dòng kẻ phụ trên

dòng kẻ phụ dưới

Những dòng và khe phụ chỉ kẻ nhỏ chỉ đủ để ghi nốt nhạc và chỉ xuất hiện khi cần thiết. Thứ tự của dòng và khe phụ được tính từ khuông nhạc chính tính ra.

5. KHOÁ NHẠC 
Khoá nhạc là một hình vẽ nằm ở đầu mỗi khuông nhạc. Khoá nhạc giúp ta nhận ra tên các âm (tên nốt nhạc) trên khuông nhạc. 
Có nhiều loại khoá nhạc nhưng thường dùng nhất là khoá Son và khoá Pha. Những ca khúc thanh nhạc (bài hát) thường chỉ dùng khoá Son. 
Khoá Son có miệng khoá mở từ dòng 2. Tên nốt nhạc nằm ở dòng 2 là nốt Son. Từ nốt Son ta tính được các nốt khác trên khuông. 

                                 Khoá Son
                                                ........................Nốt Son

                                    Khóa Fa..........................nốt fa


6. TÊN NỐT NHẠC
Để ghi lại độ cao thấp của âm thanh người ta dùng 7 âm, thứ tự từ thấp đến cao là:
Đô - Rê - Mi - Pha -Son - La - Si
Viết tắt : Đô (C); Rê (D); Mi (E); Pha (F); Son (G); La (A); Si (B)


7. HÌNH NỐT NHẠC
Để phân biệt độ ngân dài ngắn của âm thanh người ta dùng một số hình nốt nhạc:

Có 7 loại hình nốt nhạc sau: 

  • Hình nốt tròn ngân dài gấp đôi hình nốt trắng 
  • Hình nốt trắng ngân dài gấp đôi hình nốt đen 
  • Hình nốt đen ngân dài gấp đôi hình nốt móc đơn 
  • Hình nốt móc đơn ngân dài gấp đôi hình nốt móc kép... 

8. CÁCH GHI NỐT NHẠC TRÊN KHUÔNG
Để việc ghi chép nhạc được đẹp, thống nhất, người ta qui định cách ghi chép các hình nốt nhạc như sau:
a.Cách ghi đuôi nốt không có dấu móc: 

  • Nốt nhạc quay lên, đuôi nốt viết bên phải. 
  • Nốt nhạc quay xuống, đuôi nốt viết bên trái. 
b.Cách ghi đuôi nốt có dấu móc:
Các nốt nhạc có dấu móc cách ghi hướng đuôi cũng như trên nhưng hướng của dấu móc bao giờ cũng ở phía bên phải:

c.Cách ghi nhạc ở bài hát một bè: 
Những nốt nhạc từ vị trí La trở xuống đuôi nốt viết quay lên. 
Nốt nhạc viết ở dòng 3 (nốt Si) viết tuỳ ý. 
Những nốt nhạc từ vị trí La trở xuống đuôi nốt viết quay lên. 

d.Cách ghi nhạc ở bài hát hai bè (tham khảo) 
Tất cả các nốt ở bè trên đuôi nốt viết quay lên. 
Tất cả các nốt ở bè dưới đuôi nốt viết quay xuống. 

e.Gạch ngang trường độ:
Thông thường khi viết một ca khúc, các nốt nhạc được tách rời ứng với lời ca. Đối với các bản nhạc không lời, các dấu móc đi liền nhau có thể được thay bằng các dấu gạch nối gọi là gạch ngang trường độ.


9. VỊ TRÍ CÁC NỐT NHẠC TRÊN KHUÔNG NHẠC KHOÁ SON
Theo thứ tự 7 tên nốt (Đô, Rê, Mi, Pha, Son, La, Si) vị trí nốt nhạc trên khuông nhạc khoá Son như sau:


10. DẤU HOÁ
Dấu hoá là kí hiệu cho biết sẽ làm thay đổi cao độ của nốt nhạc lên cao hoặc xuống thấp hơn với khoảng cách là 1/2 cung so với vị trí nó đang đứng. Có 3 loại dấu hoá thường dùng:

11. ẢNH HƯỞNG CỦA DẤU HOÁ
Tuỳ theo vị trí, dấu hoá có tác dụng và tên gọi như sau:
a.Dấu hóa theo khóa: Dấu hoá theo khoá viết ở đầu mỗi khuông nhạc. Dấu hoá này ảnh hưởng đến tất cả nốt nhạc nào mang tên dấu hoá đó.

Tất cả các nốt Pha trong bài nhạc đều phải nâng cao lên 1/2 cung do ảnh hưởng của dấu hóa pha thăng ở đầu khoá.

Tất cả các nốt Si trong bài nhạc đều phải hạ thấp xuống 1/2 cung do ảnh hưởng của dấu hoá Si giáng ở đầu khoá.

*Lưu ý: Chỉ có 2 loại dấu hoá là dấu thăng và dấu giáng được sử dụng làm dấu hoá theo khoá.

*Khi sáng tác bài hát hoặc bản nhạc, việc lựa chọn xây dựng bài hát, bản nhạc trên một gam nào đó tuỳ thuộc vào chủ ý của tác giả. Nếu xây dựng trên gam Đô trưởng hoặc La thứ thì không xuất hiện dấu hoá theo khoá. Còn nếu xây dựng trên một gam khác 2 gam trên thì bắt buộc phải sử dụng dấu hoá theo khoá. Cụ thể các em sẽ được tham khảo ở những bài sau. 

*Trình tự xuất hiện dấu thăng: theo vòng quãng 5 đi lên (quãng 4 đi xuống) Pha-Đô-Son-Rê-La-Mi-Si 

*Trình tự xuất hiện dấu giáng: theo vòng quãng 4 đi lên (quãng 5 đi xuống) Si-Mi-La-Rê-Son-Đô-Pha 

*Cách tính giọng với hoá biểu có dấu thăng: Từ dấu thăng cuối cùng tính lên quãng 2 thứ (0,5cung) ta được giọng trưởng, tính xuống quãng 3 thứ (1,5 cung) ta được giọng thứ song song. 

VD: Từ dấu thăng nốt Đô tính lên Đô-Rê:Ta được giọng Rê trưởng, tính tiếp xuống Đô-Si-La ta được giọng La thứ.

*Cách tính giọng với hoá biểu có dấu giáng: Từ dấu giáng cuối cùng tính xuống quãng 4 giảm (2,5cung) ta được giọng trưởng, tính xuống quãng 3 thứ (1,5 cung) ta được giọng thứ song song.

VD: Từ dấu giáng nốt Mi tính xuống Mi-Rê-Đô-Si:Ta được giọng Si giáng trưởng, tính tiếp xuống Si giáng-La giáng-Son ta được giọng Son thứ.

Đối với các hoá biểu có 2 dấu giáng trở lên, lấy tên nốt có dấu giáng áp út chính là tên của giọng trưởng.

b.Dấu hóa bất thường: 

  • Dấu hoá bất thường không có vị trí cố định, thỉnh thoảng xuất hiện trong bản nhạc nên gọi là dấu hoá bất thường. 
  • Dấu hoá bất thường đặt ngay trước nốt nhạc và chỉ ảnh hưởng trong một ô nhịp. 
*Tất cả 5 loại dấu hoá: thăng, thăng kép, giáng, giáng kép, dấu bình đều được dùng làm dấu hoá bất thường.

12. NHỊP

Khi nghe một bản nhạc hay một bài hát, ta thường thấy cách một khoảng thời gian đều nhau nào đó có một tiếng đệm mạnh (hay một tiếng trống đệm theo). Khoảng thời gian đều nhau giữa tiếng mạnh trước với tiếng mạnh sau gọi là nhịp.

Để phân biệt nhịp nọ với nhịp kia người ta dùng một vạch thẳng đứng trên khuông nhạc gọi là vạch nhịp.

Khoảng cách giữa 2 vạch nhịp gọi là ô nhịp hoặc nhịp trường canh. Khi kết thúc 1 đoạn nhạc hay thay đổi khoá nhạc, thay đổi nhịp, người ta dùng 2 vạch nhịp, gọi là vạch kép. 

Chấm dứt bài nhạc người ta dùng vạch kết thúc bao gồm 1 vạch bình thường và 1 vạch đậm hơn ở phía ngoài. 

13. PHÁCH 

  • Trong mỗi nhịp (ô nhịp hay nhịp trường canh) lại chia ra nhiều quãng thời gian đều nhau nhỏ hơn gọi là phách. 
  • Mỗi nhịp đều có phách mạnh, phách nhẹ. Phách mạnh bao giờ cũng nằm ở đầu ô nhịp. Nhờ có phách mạnh, phách nhẹ ta mới phân biệt được các loại nhịp khác nhau. 
  • Số lượng phách trong mỗi ô nhịp tuỳ thuộc vào số chỉ nhịp. 

Phách có thể chia ra làm nhiều phần nhỏ hơn một nốt nhạc hoặc có thể có nhiều phách trong một hình nốt nhạc.

Ví dụ: Trong nhịp 4/4, một phách có thể bằng một hình nốt đen hoặc 2 hình nốt đơn hoặc 4 hình nốt móc kép…; một hình nốt tròn có 4 phách, một hình nốt trắng có 2 phách… (cụ thể sẽ nói rõ hơn trong phần Số chỉ nhịp)

14. SỐ CHỈ NHỊP
Số chỉ nhịp ghi đầu bản nhạc, sau khoá nhạc và chỉ ghi một lần ở khuông nhạc đầu tiên (trừ trường hợp có sự thay đổi nhịp)


  • Số chỉ nhịp trông giống như một phân số 
  • Số ở trên biểu thị số phách có trong mỗi ô nhịp. 
  • Số ở dưới biểu thị độ dài của mỗi phách là bao nhiêu (tương ứng với hình nốt nào) 
*Một số loại nhịp thông dụng:

  • Nhịp 2/4: Nhịp 2/4 trong mỗi ô nhịp có 2 phách, mỗi phách có độ dài bằng 1 hình nốt đen (mỗi ô nhịp có hai hình nốt đen)


  • Nhịp 3/4: Nhịp 3/4 trong mỗi ô nhịp có 3 phách, mỗi phách có độ dài thời gian bằng một hình nốt đen (mỗi nhịp có 3 hình nốt đen…)


  • Nhịp 3/8: Nhịp 3/8 trong mỗi ô nhịp có 3 phách, mỗi phách bằng 1 hình nốt móc đơn. (mỗi nhịp có 3 hình nốt móc đơn)


  • Nhịp 6/8: Nhịp 6/8 trong mỗi ô nhịp có 6 phách, mỗi phách bằng 1 nốt móc đơn. (mỗi nhịp có 6 hình nốt móc đơn)


*Những nhịp có số bên dưới là 4: độ dài của phách là nốt đen.
*Những nhịp có số bên dưới là 8: độ dài của phách là nốt móc đơn.


Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

11:36:00 SA

Nhạc lý cơ bản cho người mới bắt đầu (Phần 2) .



15. DẤU LẶNG
Trong khi trình bày một bài hát, bản nhạc, có những lúc ta phải ngưng nghỉ. Thời gian ngưng nghỉ đó có các dấu hiệu để ghi lại, các dấu hiệu đó gọi là dấu lặng.

Ứng với các hình nốt chỉ độ dài thời gian vang lên của âm thanh, có các dấu lặng để chỉ thời gian ngưng nghỉ như sau:

  • Dấu lặng tròn thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt tròn 
  • Dấu lặng trắng thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt trắng 
  • Dấu lặng đen thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt đen 
  • Dấu lặng đơn thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt đơn 
  • Dấu lặng kép thời gian ngưng nghỉ bằng 1 nốt móc kép 
Những dấu lặng có độ dài ngắn hơn ít dùng trong ca khúc.

16. DẤU CHẤM DÔI-DẤU CHẤM NGÂN

  • Dấu nối, dấu chấm dôi, dấu chấm ngân là những kí hiệu bổ sung để tăng thêm độ dài của âm thanh. 
  • Dấu nối thường được sử dụng khi tăng thêm độ dài của nốt nhạc cùng tên nhau. 
  • Dấu luyến là kí hiệu dùng để nối cao độ của các nốt nhạc khác tên nhau. Hay nói cách khác, muốn thể hiện một tiếng hát ở hai nốt nhạc khác nhau người ta dùng dấu luyến. 
  • Dấu chấm dôi là kí hiệu tăng độ dài của nốt nhạc trong cùng một ô nhịp mà tổng độ dài của các nốt nhạc trong ô nhịp không vượt quá số phách quy định trong ô nhịp được ghi ở số chỉ nhịp. Dấu chấm dôi là một chấm nhỏ nằm ở bên phải nốt nhạc và có giá trị tăng thêm 1/2 độ dài của chính nốt đó. 
  • Dấu chấm ngân là kí hiệu ghi ở trên nốt nhạc, khi gặp dấu này, người hát hoặc người đàn có thể xử lí tự do. 


17. CUNG, QUÃNG
a.Cung: Trong 7 tên nốt, khoảng cách cao độ của chúng không đồng đều nhau, có khoảng cách 1 cung, có khoảng cách nửa cung. Các khoảng cách cao độ được ghi như sau:

*Do ảnh hưởng của dấu hoá nên có 2 loại nửa cung như sau:

- Nửa cung Diatonic (nửa cung dị): Là tên gọi nửa cung của 2 nốt nhạc khác tên nhau. Nửa cung Diatonic được tạo ra giữa 2 bậc liền kề nhau của hàng âm.

VD:

- Nửa cung Crômatic (nửa cung đồng): Là tên gọi nửa cung của 2 nốt nhạc cùng tên nhau. Nửa cung Crômatic được tạo ra trong một bậc cơ bản với sự nâng cao hoặc hạ thấp chính nó.

VD:


b.Quãng :
Quãng là sự liên kết giữa hai hoặc nhiều âm thanh phát ra cùng một lúc (hay phát ra lần lượt). Nốt thấp nhất của quãng gọi là nốt nền, nốt cao của quãng gọi là nốt đỉnh. 
Tóm lại : Khoảng cách cao độ giữa hai nốt nhạc được gọi là quãng.
Ví dụ : Nốt Son và nốt La có khoảng cách là quãng 2, nốt Đô với nốt Đô là quãng 1, nốt Rê với nốt Pha là quãng 3...

Có hai loại quãng là quãng giai điệu và quãng hoà thanh

  • Quãng giai điệu là quãng mà các nốt nhạc phát ra lần lượt nốt nọ đến nốt kia.
  • Quãng hoà thanh là quãng mà các nốt nhạc phát ra đồng thời cùng một lúc.

18. DẤU NHẮC LẠI – DẤU HỒI TẤU KHUNG THAY ĐỔI
a.Dấu nhắc lại: Khi có thêm yêu cầu phải diễn lại một phần hoặc toàn bài nhạc, người ta dùng thêm dấu hồi tấu. Dấu hồi tấu được ghi 2 lần.


b.Khung thay đổi: Khi sử dụng dấu nhắc lại, ở lần 2, nếu có sự thay đổi ở những ô nhịp cuối cùng người ta dùng khung thay đổi.

  • Lần 1: trình diễn bình thường
  • Lần 2: đến những ô nhịp trong vùng ảnh hưởng của khung thay đổi 1 ta phải bỏ qua không trình diễn, mà trình diễn qua những ô nhịp trong vùng ảnh hưởng của khung thay đổi 2 trở về sau.
c.Dấu hồi tấu: Khi có thêm yêu cầu phải diễn lại một phần hoặc toàn bài nhạc, người ta dùng thêm dấu hồi tấu. Dấu hồi tấu được ghi 2 lần.


d.Dấu co-đa: Khi trình bày lần thứ hai, nếu có yêu cầu phải bỏ bớt phần nào đó người ta dùng dấu Cô-đa. Dấu cô-đa cũng được ghi 2 lần.

19. HƯỚNG DẪN CÁCH XỬ LÍ KHI GẶP CÁC KÍ HIỆU
a.Kí hiệu dấu nhắc lại không có khung thay đổi:
Thứ tự trình diễn như sau:1-2-3-4-5-6-3-4-5-6-7-8.

b.Kí hiệu dấu nhắc lại có khung thay đổi:


Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8.




c.Kí hiệu dấu hồi tấu không có dấu cô-đa:


Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8-1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8.




d.Kí hiệu dấu hồi tấu có dấu cô-đa:


Thứ tự trình diễn như sau: 1-2-3-4-5-6-3-4-5-7-8-1-2-3-7-8.

20. NHỊP LẤY ĐÀ
Một ô nhịp thông thường thì số lượng phách được qui định bởi số chỉ nhịp (không được ít hơn hoặc nhiều hơn)

Ví dụ: 

  • Nhịp 2/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 2 phách ứng với 2 hình nốt đen;
  • Nhịp 3/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 3 phách ứng với 3 hình nốt đen;
  • Nhịp 6/8: mỗi nhịp (ô nhịp) có 6 phách ứng với 6 hình nốt móc đơn;...
Tuy nhiên có khi ở ô nhịp đầu, do chủ ý của tác giả, bản nhạc được bắt đầu từ một phách yếu, ô nhịp đó không đủ số phách theo qui định. Ô nhịp đó gọi là nhịp lấy đà.

21. GAM - GIỌNG
Gam là hệ thống gồm 7 bậc âm tự nhiên được sắp xếp liền bậc trong một quãng 8 (từ chủ âm đến chủ âm) I – II – III – IV – V – VI – VII – (I)

a.Gam trưởng, giọng trưởng
- Gam trưởng: Gam trưởng là hệ thống gồm 7 bậc âm tự nhiên được sắp xếp liền bậc, hình thành dựa trên công thức cung và nửa cung như sau:

Ví dụ gam Đô trưởng:

Âm ổn định nhất trong gam gọi là âm chủ (bậc I) Trong gam Đô trưởng, âm chủ là Đô

- Giọng trưởng: Các bậc âm trong gam trưởng dùng để xây dựng giai điệu một bài hát, một bản nhạc thì được gọi là giọng trưởng kèm theo tên âm chủ.

Ví dụ bài Thật là hay của Hoàng Lân, được xây dựng trên công thức gam trưởng, gồm các âm: Đô, Rê, Mi, Pha, Son, La, Si.

b.Gam thứ, giọng thứ
- Gam thứ:  Là hệ thống gồm 7 bậc âm được sắp xếp liền bậc, hình thành trên công thức cung và nửa cung như sau:


Ví dụ: Gam La thứ:

Đoạn bài hát sau được viết ở gam La thứ:


Trong trường hợp này, sử dụng từ Gam hay Giọng đều được!

- Giọng Thứ
Các bậc trong gam thứ được sử dụng để xây dựng giai điệu một bài hát hay một bản nhạc, người ta gọi đó là giọng thứ kèm theo tên âm chủ.
Ví dụ: Bài Đường Chúng ta đi (nhạc phim Trung Quốc)


22. GIỌNG HÒA THANH, GIỌNG GIAI ĐIỆU
a.Giọng trưởng hòa thanh là giọng trưởng có âm bậc VI hạ thấp xuống nửa cung so với giọng trưởng tự nhiên.
Vi dụ: Giọng Đô trưởng hòa thanh

b.Giọng thứ hòa thanh là giọng thứ có âm bậc VII tăng lên nửa cung so với giọng thứ tự nhiên.
Ví dụ: Giọng La thứ hòa thanh

c.Giọng trưởng giai điệu là giọng trưởng khi giai điệu đi xuống bậc VI và bậc VII bị giáng xuông nửa cung so với giọng trưởng tự nhiên. Khi giai điệu đi lên các bậc này trở lại bình thường như trong hình thức tự nhiên.
Ví dụ: Giọng Son trưởng giai điệu

d.Giọng thứ giai điệu là giọng thứ khi giai điệu đi lên có âm bậc VI và bậc VII tăng lên nửa cung so với giọng thứ tự nhiên. Khi giai điệu đi xuống, các bậc này trở lại bình thường như trong hình thức tự nhiên.
Ví dụ: Giọng La thứ giai điệu


23. HỢP ÂM
a.Hợp âm: Hợp âm là sự vang lên đồng thời của ba, bốn, hoặc năm âm cách nhau một quãng ba.
Ví dụ:

* Hợp âm ba có 3 âm chồng lên nhau theo quãng 3

* Hợp âm bảy có 4 âm chồng lên nhau theo quãng 3

b.Một số loại hợp âm:

- Hợp âm ba: Gồm có ba âm, các âm cách nhau quãng 3. Hai âm ngoài cũng tạo thành quãng 5.
Ví dụ: Hợp âm ba

-Âm Đô và âm Mi cách nhau một quãng 3 trưởng

-Âm Mi và âm Son cách nhau một quãng 3 thứ

-Âm Đô và âm Son cách nhau một quãng 5 đúng

Tùy theo cách sắp xếp các quãng 3 trưởng, 3 thứ mà tọa thnàh các hợp âm trưởng hợp âm thứ và các hợp âm khác.

Ví dụ: Hợp âm 3 trưởng, hợp âm 3 thứ

- Hợp âm bảy: Gồm có 4 âm, các âm cách nhau theo quãng 3. Hai âm ngoài cùng tạo thành quãng bảy.




Ví dụ: Hợp âm Bảy

-Hợp âm Son 7, có 2 âm ngoài cùng là Son và Pha, tạo thành quãng 7

-Hợp âm Pha 7, có 2 âm ngoài cùng là Pha và Mi, tạo thành quãng 7
Hợp âm là một trong những phương tiện diễn tả âm nhạc. Các nhạc sĩ sử dụng hợp âm để thể hiện những ý tưởng, cảm xúc, nội dung âm nhạc ở các tác phẩm nhạc đàn và nhạc hát.

24. DỊCH GIỌNG
Sự chuyển dịch độ cao thấp của một bài hát cho phù hợp với tầm cở giọng của người hát được gọi là dịch giọng.

Khi dịch giọng, trên bản nhạc sẽ có sự thay đổi hóa biểu và tên nốt nhạc nhưng mói quan hệ về cao độ và trường độ của các âm không thay đổi. Người ta chỉ đàn hoặc cao lên hoặc thấp xuống tùy thuộc vào độ cao muốn xê dịch được xác định bằng âm chủ.

Ví dụ: Bài Nụ cười ở giọng Đô trưởng:

Khi dịch giọng bao lên một quãng 4 (Đô-Pha) bài hát sẽ ở giọng Pha trưởng:

Khi dịch giọng thấp xuống một quãng 3 (Đô-La) bài hát sẽ ở giọng La trưởng:

Khi dịch giọng một bài hát hay một bản nhạc, tính chất trưởng hoặc thứ sẽ không bị thay đổi.

25. GIỌNG SONG SONG
Giọng song song là một giọng trưởng và một giọng thứ có chung hóa biểu.

Ví dụ 1: Giọng Đô trưởng và giọng La thứ là hai giọng song song, hóa biểu không có dấu thăng, dấu giáng.

Ví dụ 2: Giọng Pha trưởng và giọng Rê thứ là hai giọng song song, hóa biểu có dấu Si giáng.

26. ĐẢO PHÁCH NGHỊCH PHÁCH
a.Đảo phách: Đảo phách là sự xê dịch trọng âm từ phách mạnh sang phách nhẹ và ngược lại. Bình thường, cảm giác của con người thuận với một âm thanh ngân dài từ phách mạnh sang phách nhẹ. Nhưng khi âm thanh thuộc về phách nhẹ được ngân dài sang phách mạnh tai nghe sẽ phát hiện sự bất thường đó, sự bất thường đó gọi là hiện tượng đảo phách.

Ví dụ: Bình thường, không đảo phách:

Sau khi đảo phách:
Đảo phách có tác dụng làm cho nét nhạc thêm khỏe khoắn nếu ta biết sử dụng đúng mức.
b.Nghịch phách
Do có sự xê dịch về dấu nhân nên nghịch phách cũng tạo nên được những xáo động mới về tiết tấu và gây được rung cảm mới cho người nghe. Khi thay thế phách mạnh hoặc phần mạnh của phách bằng dấu lặng ta có nghịch phách.

Ví dụ:


KẾT LUẬN: TẤT CẢ CHỈ CÓ 26 ĐIỀU NHO NHỎ THẾ THÔI, NẾU BẠN ĐÃ NẮM CHẮC NHỮNG ĐIỀU TRÊN THÌ XIN CHÚC MỪNG BẠN. THẾ GIỚI ÂM NHẠC ĐANG CHỜ ĐÓN BẠN BƯỚC VÀO VÀ KHÁM PHÁ!!!

-- Rảnh Blog --
(Sưu tầm và bổ sung)